Thế nào là hình tướng? Hình tướng là tất cả những gì mà ta có thể nhận diện được thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (tưởng tượng, hình dung được). Ví như: hình ảnh, âm thanh, mùi vị …. Đều là hình tướng.
Hình tướng có hai nơi: hình tướng nơi tâm (ý nghĩ, hình ảnh tưởng tượng, cảm xúc …) và hình tướng nơi ngoài tâm (sự hiện hữu của thân xác ta, thế giới vật chất ngoài ta).
(1) Thế nào là “trụ nơi hình tướng mà sanh tâm”? “Trụ” là ở lại. “Trụ nơi hình tướng mà sanh tâm” đó là khi ta tiếp xúc với hình tướng thông qua ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý) thì tâm khởi sinh các ý niệm phân tích, đánh giá, khen chê, phán xét, nhận định , yêu, ghét, giận, hờn …. Niệm niệm sinh khởi, vọng niệm không ngừng phát sinh.
(2) Thế nào là “trụ nơi tâm mà sanh tâm”? Đó là tự nơi tâm ta sinh khởi các tạp niệm hoặc sinh khởi các niệm có chủ đích, niệm niệm sinh khởi nối tiếp không ngừng.
(3) Thế nào là dính mắc nơi hình tướng? Là khi thấy hình tướng thì nảy sinh yêu, ghét, phán xét, khen, chê… , tâm ta bị các ý niệm đó đồng hóa, niệm niệm sinh khởi nối tiếp theo nó mà không tách rời, nên gọi là dính mắc.
(4) Thế nào là chấp nơi hình tướng? Đó là do vô minh cái thấy sai bản chất chân thật của hình tướng nhưng tâm mình vẫn chấp cho là sự thật.
Người phàm phu “trí và tâm” vọng động không ngừng, thường trụ nơi tâm mà sanh tâm, trụ nơi hình tướng mà sanh tâm, bản ngã sinh khởi sinh lòng tham lam, yêu ghét, giận hờn, đố kỵ, ác độc, sân si….
Vậy làm sao để hàng phục cái tâm động loạn đó? Chỉ có thể “dùng cái tâm linh giác sáng suốt trong ta – tâm phật trong ta” thường hằng quán chiếu tâm mình, nhìn rõ sự xuất hiện của: “tâm bất thiện”, “tâm kiêu ngạo”, “tâm ác độc, “tâm sân hận”, “tâm yêu ghét” và tất cả các “tâm hỗn loạn không có mục đích cụ thể khác”
– Bước 1:
. Đây là trạng thái tĩnh lặng chân thật của tâm thức, tĩnh lặng tự động mà không có bất cứ sự kìm nén nào nơi tâm (“tâm thức” tự động im lặng khi các tạp niệm nơi tâm tan biến chứ không phải trạng thái cố đè nén sự sinh khởi của các ý niệm để tìm tĩnh lặng; không phải sự tĩnh lặng được tạo ra do ngồi tĩnh tọa hình dung ra tĩnh lặng để an trú tâm vào đó).
– Bước 3: Lập lại các bước trên và kéo dài đến bất tận.
Cứ quan chiếu như vậy, dần dần “cái linh giác hằng thấy biết” của bạn sẽ hiện hữu thường xuyên hơn trong tâm. Đến một thời điểm sự tỉnh thức đủ sức mạnh để hằng hữu thường hằng trong tâm, không bị các tạp niệm che khuất nữa, chính là sự sáng trong tâm được chiếu rọi hoàn toàn, tâm tạp niệm dừng sinh khởi, tâm bạn tĩnh lặng tự động mà không cần phải điều ngự “tâm linh giác” chú ý quán chiếu nữa. Khi này là tĩnh lặng, là cõi an tịnh, là niết bàn (vì tâm tĩnh lặng hoàn toàn, không còn tâm sanh diệt nên nó là cõi niết bàn), là giải thoát thực sự của tâm.
Với cái lý trên, Đối chiếu với lời Kinh, ta mới cảm ngộ được rõ lời Phật nói: Đoạn 3 Trong KINH KIM CANG (Chánh tông của đại thừa), Phật nói: “nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả” tức chẳng phải bồ tát”; Đoạn 4 (Diệu hạnh không chỗ trụ), Phật nói: “Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường”. Đại ý là Phật muốn chỉ cho người tu cần lìa tất cả các hình tướng, đừng trụ nơi hình tướng sinh tâm, đừng trụ nơi tâm sinh tâm , từ đó mới có được sự tĩnh lặng, từ sự tĩnh lặng sẽ được an nhiên, tự tại, mới được Tâm Phật, được tâm Phật mới gọi là bồ tát, phước đức không thể nghĩ lường.
Người phàm phu tâm thường sinh vọng tưởng, hay khởi yêu ghét, nên khi tiếp xúc với vạn vật bị cái tâm động loạn đó che mờ mất thực tại. Để phá cái tâm chấp hình tướng sai lệch đó, Phật đã dùng hình tướng “Thế giới” để phá tan cái nhìn vô minh của ta, từ đó biết cách để nhận được “cái tâm trí tuệ” nhìn thấu bản chất chân thực của thế giới, của hiện hữu xung quanh ta.
Đoạn 13 Kinh Kim Cang, Phật nói: “NHƯ LAI NÓI THẾ GIỚI KHÔNG PHẢI LÀ THẾ GIỚI ẤY LÀ THẾ GIỚI”.
Tại sao nói thế giới không phải thế giới ấy là thế giới? Vạn vật hiện hữu thường hằng mà không phụ thuộc vào tâm trí con người, nó vẫn hiện hữu vậy sao bảo nó không thật, nếu tạm nghĩ nó là do duyên hợp mà thành thì cái hiện hữu duyên hợp ấy nó vẫn là hiện hữu, vậy tại sao nói nó không có?.
Nếu hiểu theo nghĩa những hiện hữu bên ngoài kia không phải thế giới thì chưa thấy thật đúng. Ý Phật nói ở đây là nói về “Thế giới hiện lên bên trong tâm ta” khi ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý …. , nó là “tâm thế giới” không phải “thế giới hiện hữu bên ngoài”, nó là hình ảnh phản chiếu của “thế giới bên ngoài”.
“Thể tâm thức” của ta như gương, ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) như bề mặt của gương, thế giới bên trong “thể tâm thức” như “thế giới trong gương. Khi ta tiếp xúc nhận biết thế giới, “thể tâm thức” phản chiếu hình ảnh thế giới bên ngoài thì mức độ chân thật của hình ảnh chịu sự tác động của “trí và tâm (cảm xúc yêu/ghét/vui/buồn …)”. Nếu “trí và tâm” tĩnh lặng thì “thể tâm thức” phản chiếu hình ảnh chân thật của “thế giới hiện hữu bên ngoài”; nếu “trí và tâm” sinh khởi yêu, ghét, phân tích , đánh giá, định nghĩa … thì hình ảnh “thế giới hiện hữu bên ngoài” nó không còn đúng như hiện hữu nữa, nó méo mó theo tâm trạng yêu ghét, mức độ vọng động tâm trí của người nhìn. Cũng như mặt hồ phản chiếu hình ảnh của thế giới, nếu mặt hồ phẳng lặng không có sóng thì nó phản chiếu hình ảnh chân thật của thế giới bên ngoài, nếu mặt hồ gợn sóng thì hình ảnh bị mờ đi tùy theo mức độ mạnh yếu của sóng. Ví như cùng là thế giới hiện hữu bên ngoài ấy, người tích cực thì “thể tâm thức” phản chiếu hình ảnh trong “tâm thức” một “thế giới thật tươi đẹp”, người tiêu cực thì phản chiếu hình ảnh một “thế giới địa ngục”, người tâm tĩnh lặng thì phản chiếu hình ảnh như đúng hiện hữu khách quan. Lại ví như có một cô gái đi ngang qua đường, người “tâm” sinh khởi yêu thì “tâm thức” phản chiếu hình ảnh cô gái đó thật xinh đẹp, lộng lẫy; người “tâm” sinh khởi ghét thì “tâm thức” phản chiếu hình ảnh cô gái đó thật xấu xa, đê tiện; người “tâm tĩnh lặng bất động” thì “tâm thức” phản chiếu hình ảnh cô gái đúng như đang hiện hữu (cô gái hiện hữu với thân xác đó, tâm thức đó, cái tên đó.. không có bình phẩm/ phán xét nào của tâm trí về cô gái).
Cùng là hiện hữu độc lập của thế giới bên ngoài đó, nhưng do mức độ vọng động của tâm trí mà sinh khởi phản chiếu trong “thể tâm thức” các hình ảnh khác nhau.
Nên khi tâm trí vọng động thì “THẾ GIỚI TRONG TÂM” phản chiếu “KHÔNG PHẢI LÀ THẾ GIỚI” bên ngoài, khi tâm trí tĩnh lặng thì “THẾ GIỚI TRONG TÂM” phản chiếu hình ảnh không sai biệt so với “THẾ GIỚI” bên ngoài, nên gọi là “THẤY THẾ GIỚI CHÂN THỰC”. Nên “LÀ THẾ GIỚI” hay “KHÔNG PHẢI LÀ THẾ GIỚI” là do “tâm lặng” hay “tâm vọng động”.
Thế giới ở đây cũng đại diện chung cho hình tướng của vạn vật. Tâm không tĩnh lặng mà nhìn thấy hình tướng sai lệch và cho nó là thật , bám chấp vào nó thì đó là mê của người đời. Chỉ khi tâm tĩnh lặng hoàn toàn thì khi tiếp xúc với hiện hữu nó mới là hiện hữu chân thật (cái nhìn chân thật, cái nhìn thấu suốt trực tiếp của “tâm linh giác/ tự tánh/ tâm ý thức”.
Phật nói: “Phàm những gì có tướng là hư vọng”, đó là Phật nói cho phàm phu để đừng chấp tướng, vì phàm phu tâm không tĩnh lặng, hay khởi yêu ghét nên cái nhìn bị ảnh hưởng theo tâm trí yêu ghét, không phải cái nhìn chân thật, nên cái thấy trong tâm nó là hư vọng. Còn đối với Phật (bậc giác ngộ tuyệt tối), tâm hằng tĩnh lặng, khi nhìn ra thế giới là cái nhìn chân thật, vạn vật hiện hữu như thực tại nó vốn có, vì tâm không khởi nên cũng chẳng phân biệt hư vọng hay không hư vọng, chỉ có tĩnh lặng thường hằng, thấy biết tất cả nhưng tâm không dính mắc (vì tâm có khởi đâu mà dính mắc).
CHANGIACTHIEN.COM
